ngày 19 tháng 4, 2005
Đẳng Nghiêm
Cái nỗi sợ lớn nhất cho cá nhân tôi là những vấn đề liên quan đến phòng vệ sinh. Những câu hỏi và quan tâm về vấn đề đó cứ chập chờn trong đầu của tôi, trong những ngày tôi chuẩn bị hành lý cũng như tinh thần cho chuyến đi về Việt Nam với Thầy và phái đoàn của tăng thân Làng Mai. Tôi mỉm cười gượng gạo với cái lo lắng nông cạn của mình, cảm thấy bất lực vì tôi không thể giũ nó, lắc nó, hay thở nó ra khỏi cái đầu của tôi. Vậy nên tôi vô cùng bất ngờ khi cái sợ của tôi được giải đáp một cách nhanh chóng. Sau khi đến Hà Nội và nghỉ ngơi ở chùa Bồ Đề được hai ngày, Thầy và tăng thân Làng Mai bắt đầu đi thăm viếng các nơi có di tích lịch sử của Phật giáo. Thành Cổ Loa là điạ điểm đầu tiên. Tôi bước những bước chân tĩnh lặng, với ý thức rằng tổ tiên tâm linh của tôi đã từng đi trên vùng đất này. Một thời là trung tâm hưng thịnh của đạo Bụt, giờ chỉ còn lại thành Cổ Loa đã được trùng tu, nổi bật bởi cái tháp nhỏ, xưa chín tầng, nay thì ba tầng. Xung quanh vùng chủ yếu chỉ có những quán nhỏ và gánh hàng rong, nhằm phục vụ khách du lịch thỉnh thoảng đến thăm. Tôi không buồn, chỉ thấy thấm thía hơn cái nghiã của thịnh suy, của thời gian. 'Time. Time. Timeless' (Thời gian. Thời gian. Thời gian vô cùng). Bất giác tôi thì thầm câu nói này trong khi tôi đi trên mảnh đất của thành Cổ Loa, khi tay tôi chạm những viên gạch của thành nội Huế, và nhiều nơi khác trong suốt chuyến đi ở Việt Nam.
Quay lại với vấn đề phòng vệ sinh. Hình như thành Cổ Loa không có nơi đi vệ sinh chính thức, hoặc có thể vì tôi chăm chú lắng nghe người hướng dẫn viên, nên khi đến giờ đại chúng lên xe buýt thì tôi phải đi theo, và không có thời gian đi tìm nó. Tôi không nhớ rõ là nhu yếu cần đi phòng vệ sinh trở nên cấp bách đối với tôi khi phái đoàn đến thăm chùa thứ hai hay chùa thứ ba sau thành Cổ Loa. Tôi không nhớ tên chùa hoặc kiến trúc của chùa. Tôi chỉ nhớ hàng người đứng đợi để dùng phòng vệ sinh khá dài, hình như chỉ có một phòng, người đứng ngoài nhăn mặt, mà người vừa bước ra khỏi phòng đó mặt lại càng nhăn hơn. Cuối cùng thì cũng đến phiên tôi. Hỡi ơi! Cánh cửa gỗ cũ kỹ thì nhỏ hơn khung cửa và không có móc để khoá lại, và 'cầu tiêu' chỉ là một cái hố trong góc tường, nhỏ hơn hai ngón tay cái và hai ngón tay trỏ của tôi nối lại với nhau. Không biết cái hố đó sâu bao nhiêu. Không biết người cần đi tiêu sẽ xoay sở thế nào. Tôi thầm cảm ơn là tôi chỉ cần đi tiểu. Đống giấy vệ sinh bỏ bừa bãi chung quanh và mùi hôi tanh.... Có những sư chị sư em đã rút kinh nghiệm và nhịn uống nước từ sáng đến tối, trong những ngày phái đoàn đi thăm nhiều nơi. Riêng tôi, từ hôm đó trở đi, tôi thấy mình không còn lo lắng về vấn đề cầu tiêu trong những nơi thăm viếng sắp tới sẽ như thế nào. Sạch hay dơ. Có giấy hay không có giấy. Có nước hay không có nước. Có xà bông hay không có xà bông. Có cửa hay không có cửa. Sao cũng được. Nghĩ lại, cái phòng vệ sinh đó thô sơ nhất, có thể dơ nhất, và cũng mầu nhiệm nhất vì nó chữa lành cái nỗi sợ căn bản của tôi ngay từ những ngày đầu tiên về Việt Nam.
Chúng tôi theo Thầy đi thăm viếng rất nhiều nơi có di tích lịch sử, hầu hết là các chùa cổ, nhất là ở ngoài Bắc và ở Huế. Trên đường đi, tôi nhìn quanh trên xe buýt và thấy nhiều chị em của tôi ngủ thiếp đi, vẻ mặt mệt mỏi, tiếng ho khan vọng từ các phía. Thời tiết khắc nghiệt và thay đổi hoàn toàn từ miền này qua miền khác. Miền Bắc thì lạnh cóng và ẩm ướt, lại đang có bệnh dịch trong vùng, nên chỉ trong một tuần, 2/3 các thầy và sư cô đã bị cảm cúm, bị tiêu chảy hoặc bị cả hai. Vào Sài Gòn thì nóng bỏng, quần áo phơi mau khô, nhưng nhiều vị cũng đã bị trúng gió và dị ứng bởi môi trường quá ô nhiễm. Ra Huế thì mưa tầm tả những ngày đầu. Chỗ ở của chúng tôi cũng thay đổi liên tục, và chúng tôi nằm sát bên nhau như cá mòi. Tôi nghĩ tội nhất là các thầy và sư chú người Tây Phương, to lớn nhưng chỗ nằm vẫn san sát nhau. Người bên trái của mình ho. Người bên phải của mình ho. Vậy nên trước sau gì mình cũng ho. Khổ nỗi các con virút (virus, siêu vi khuẩn) của bệnh cảm cúm có khả năng đột biến gen (gene mutation) rất tài tình, nghĩa là chúng có thể tự thay đổi trong chất liệu DNA, và trở thành một loại virút 'mới' (mutated). Vậy nên mình vừa qua khỏi cơn bệnh, nhưng nếu người sư chị/sư em cận kề ho vào mình một loại virút mới đột biến, thì mình vẫn có thể bệnh lại, vì bộ phận miễn dịch của mình cần thời gian để nhận diện và sản xuất kháng thể có công năng tiêu diệt loại virút này. Mệt mỏi như vậy, ho như vậy, tiêu chảy như vậy, nhưng nếu tôi vẫn còn đi sinh hoạt được, thì tôi sẽ đi, và tôi biết các sư anh, sư chị, sư em của tôi cũng đang cố gắng hết sức. Vì sao? Vì chúng tôi có tình yêu và lý tưởng. Cuộc sống của người tu giúp chúng tôi thấy rõ mình hơn mỗi ngày, và chúng tôi muốn giúp những người khác cũng có cơ hội được thật sự sống và thực sự hạnh phúc. Vì chúng tôi có một người thầy vô cùng dõng mãnh. Thầy 80 tuổi rồi, mà Thầy luôn có mặt và đi đầu trong các buổi thăm viếng. Thầy vẫn ngồi lưng thẳng và vững như trái núi trong các buổi pháp thoại, dù đó là bài pháp thoại thứ hai trong cùng ngày. Chúng tôi chỉ đi tháp tùng thôi mà xiểng niểng, huống hồ chi là Thầy. Thầy dõng mãnh như vậy, tôi phải tập theo. Tình thương của Thầy lớn như vậy, tôi phải mở trái tim tôi thêm. Mỗi khi vào thăm chùa hay đình, chúng tôi đi thiền hành theo hạ lạp thật trang nghiêm, một bên là các thầy và một bên là các sư cô. Tôi tập nghỉ ngơi trong hơi thở và bước chân. Chúng tôi cùng Thầy vào chánh điện đảnh lễ trước bàn Phật. Vì tôi là sư em nhỏ nên tôi thường đảnh lễ với nhóm đến sau, trong khi Thầy và các sư anh, sư chị lớn đi vào gian kế bên để đảnh lễ chư vị Tổ sư. Tôi tiếp xúc sâu sắc nhất với mảnh đất của ngôi chùa tôi đến thăm trong tư thế phủ phục này. Tôi cảm tạ ơn chư Bụt và chư Tổ cho tôi có Thầy, có anh, có chị, có em. Tôi thở đều và lòng tôi tràn đầy niềm biết ơn. Cũng có những khi với năm vóc sát đất, tôi nằm yên thật lâu, lắng nghe hơi thở, buông xuống đất sự mỏi mệt và mọi tiếng động, với một tâm nguyện tha thiết: "Xin được có mặt cho Thầy."
| Đó cũng là ước nguyện duy nhất của tôi trong suốt chuyến đi. Tôi chỉ muốn có mặt cho Thầy và huynh đệ của tôi, ngoài ra tôi không mong cầu hoặc toan tính một cái gì khác. Để làm được điều đó, tôi đã đi qua những biến chuyển và những khám phá rất tự nhiên. Ví dụ như chuyện ăn uống. Trước khi về Việt Nam, tôi cũng đã mơ tưởng đến những loại trái cây và những món ăn Việt Nam. Vậy mà ba tháng ở Việt Nam, tôi đã ăn uống kỹ lưỡng còn hơn khi tôi ở Mỹ. Tôi tránh ăn rau sống, tránh ăn trái cây mỏng vỏ, tránh những món dưa làm chua hoặc làm mặn (pickled or salted vegetables). Thậm chí tôi không đụng đến những món ruột của tôi như nước dừa, xoài, cốc, ổi, chè... trong suốt một tháng ở Sài Gòn. Tôi không cho đó là một sự hy sinh to lớn. Ý thức rằng nếu tôi ăn không kỹ, lâm bệnh và mất sức, thì tôi sẽ không theo được các sinh hoạt của tăng thân, và tôi sẽ không phụ dịch được những bài pháp thoại của Thầy. |
 |
Nghĩa là tôi sẽ không có mặt được cho Thầy. Ý thức này đưa tôi đến sự chọn lựa một cách rất dễ dàng. Hơn nữa, vì tôi là một trong những người được tăng thân giao phó cho việc thăm bệnh và phân phát thuốc men cho các sư cô, nên ý thức về sức khoẻ được nâng cao trong tôi. Trong chuyến đi này, tôi được biết nhiều hơn về các chị em của tôi và những chi tiết khá cá nhân (personal) của họ. Không những các sư cô, mà các thầy và các sư chú cũng đến chia xẻ tình trạng sức khoẻ của họ với tôi. Đàm màu gì, lượng bao nhiêu. Đi tiêu chảy mấy lần một ngày, có máu không, có mủ không. Nếu đi nhiều quá và bị rát, thì nên rửa bằng nước, đừng dùng giấy vệ sinh. "Sư chị, em đi không được!" Một sư em thỏ thẻ bên tai tôi. "Sư em muốn đi đâu?" Tôi hỏi một cách ngây ngô, quên bẵng vai trò bác sĩ của mình. "Em đi cầu không được. Em bị bón." "Sister, why is my urine so dark?" (sư em, tại sao nước tiểu của tôi đen quá vậy?" Một sư chị đến hỏi tôi trong giờ chỉ tịnh, mặt đầy vẻ lo lắng. Rồi một sư em khác thông báo với vẻ mặt hớn hở, "Sister, it's good today! And I want you to know about it," (Sư chị ơi, nó [phân của em] tốt lắm hôm nay, và em muốn sư chị biết về điều đó'). Có khi tôi thấy các sư chú Tây phương ăn khế, gắp dưa chua một cách an nhiên tự tại, tôi nhỏ nhẹ nhắc: "Sư em coi chừng. Ăn cái đó dễ bị tiêu chảy lắm." Có vài sư em cảm ơn, nhưng có sư em nói: 'I've eaten it, and it's O.K.' (Tôi ăn rồi, và không sao hết). Nhưng nếu hôm sau tôi biết sư em bị tiêu chảy, mặt mũi bơ phờ, thì tôi tránh không nhắc chuyện cũ. Tôi chỉ hỏi han: "Nếu sư em cần thuốc cầm thì cho chị biết."
Tôi cũng thấy hoan hỷ và tùy hỷ hơn với tất cả những dự định, những phát sinh, và những thay đổi liên tục trong lịch trình. Đi cũng được. Không đi cũng được. Làm cái đó cũng được. Làm cái khác cũng được. Miễn là có Thầy, có sư anh, sư chị, sư em là đủ rồi.
Thầy dạy chúng tôi mang theo bước chân và hơi thở ý thức với mình suốt ngày. Đó là sự thực tập trở về. Trở về với thân. Trở về với tâm. Trở về với những người thương đang còn đó bên cạnh mình. Trở về với những khuôn mặt và những vẻ đẹp bao quanh. Trước khi tôi đi tu, mỗi khi tôi đi đâu xa một mình, tôi hay có cái tật nghĩ về người tôi yêu và ước gì người đó có mặt với tôi. Ý nghĩ đó thường khiến tôi buồn, trống vắng, trạo cử, nghêu nghao hát những bài hát đứt ruột, và quên bẵng phong cảnh chung quanh. Năm đầu tiên sau khi xuất gia, tôi khám phá ra rằng tôi có thể: "Tìm người thương tôi trong bước chân hơi thở; tìm người tôi thương trên vạn nẻo đường về." Tôi đặt nhạc cho câu này và hát lên để nhắc chính mình, mỗi khi thấy tâm tôi bắt đầu đi về hướng của quá khứ, của nắm bắt. Với thời gian tôi thấy rõ hơn rằng tôi không phải tìm nữa. Khi tôi có mặt đích thực trong bước chân và hơi thở, thì tất cả những người đã, đang, và sẽ thương tôi đều có đó. Tôi đang sống cho họ. Tôi đang làm tất cả những gì có thể làm cho họ. Tình yêu không dành cho riêng ai. Nơi đó, mọi người cùng nếm được hạnh phúc chân chính.
Trong sự thực tập trở về, tôi khám phá ra quê hương Việt Nam của tôi đẹp quá. Tôi chưa từng nghĩ rằng Việt Nam có thể đẹp như vậy! Những câu thơ Thầy viết trở nên sống động trong tôi:
"Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương.
Sông núi trông ra đẹp lạ thường!
Về đến quê xưa tìm gốc cũ,
Qua rồi cầu hiểu đến cầu thương."
Sông núi trông ra đẹp lạ thường! Đẹp quá bãi cát dài trắng mịn. Đẹp quá màu nước xanh biên biếc. Đẹp quá dãy Trường Sơn uốn mình giữa trời đất. Đẹp quá những bà cụ chít khăn mỏ quạ, răng đen nháy. Đẹp quá từng chén cơm, cọng rau san sẻ từ mảnh đất cằn khô và bàn tay sạm nắng. Đẹp quá những đôi mắt sáng rực khi thấy được hướng đi. Tôi chợt hiểu rằng ai cũng là Ngoại, là Mẹ, là Thầy. Việt Nam nào phải của riêng ai. Đâu cũng là Việt Nam. Phút giây nào cũng là để quay về.
|