“Mấy mươi năm trời cần mẫn
Thủy chung vẫn một niềm thương.”
Khi tôi nhắm mắt, tôi thấy hàng trăm đôi mắt chăm chăm nhìn tôi. Những đôi mắt đen tròn xoe và ngây thơ, nhưng chúng làm tim tôi thắt lại và buộc tôi phải nhìn sâu hơn vào hướng đi của mình.
Therese đến tu viện Bát Nhã đêm thứ sáu tuần trước. Cô đại diện cho ông John đến thăm những lớp mẫu giáo của chương trình Hiểu và Thương mà ông John đã phát tâm bảo trợ từ tháng mười năm 2004. Ðêm đó chúng tôi tổ chức một buổi lễ thiền trà để đón mừng một Ni Sư từ Huế vào cũng như của Therese từ Mỹ đến thăm. Thiền đường Tâm Bất Ðộng của xóm Bếp Lửa Hồng chật ních với hơn 250 thầy, sư cô, và thiền sinh. Chúng tôi ngồi yên lặng trong vòng tròn với trà và bánh kẹo đặt trên chíếc lá trước mặt mỗi người. Những cây nến và một bình hoa được trưng bày một cách thanh lịch chính giữa vòng tròn. Tăng thân chúng tôi ngồi bên nhau trong không khí thật ấm áp. Bắt đầu buổi thiền trà, Thượng Tọa viện chủ tu viện Bát Nhã (mà chúng tôi thường gọi là Sư Phụ) chân thành cảm tạ sự có mặt của Ni Sư và của Therese. Thượng Tọa chia sẻ về lịch sử của tu viện Bát Nhã. Bốn mươi năm trước, Thượng Tọa đã vận động bảy sư chú trẻ khác rời chùa tổ với mục đích đi tìm những nơi có thể huấn luyện họ phụng sự xã hội một cách hiệu quả hơn. Thượng Tọa bắt gặp cuốn Nẻo Về Của Ý của Sư Ông. Chính lý tưởng và cái thấy trong sáng của Sư Ông đã dẫn dắt Thượng Tọa qua những giai đoạn thử thách và khó khăn nhất, kể cả những năm các thầy và các sư cô bị ép buộc phải bỏ chùa và hoàn tục. Thượng Tọa đọc thuộc làu cho đại chúng nghe bài ngũ ngôn trong Nẻo Về Của Ý mà Sư Ông đã viết trước khi rời Phương Bối đi kêu gọi hòa bình:
 |
“Gối nhẹ mây đầu núi
Nghe gió thoảng hương trà
Thiền duyệt tâm bất động
Rừng cây dâng hương hoa
Một sáng ta thức dậy
Sương lam phủ mái nhà
Hồn nhiên cười tiễn biệt
Chim chóc vang lời ca
Ðời đi về muôn lối
Quan san mộng hải hà
Chút lửa hồng bếp cũ
Ấm áp bóng chiều sa
Ðời vô thường vô ngã
Người khẩu Phật tâm xà
Niềm tin còn gởi gắm
Ta vui lòng đi xa
Thế sự như đại mộng
Quên tuế nguyệt ta đà
Tan biến dòng sanh tử
Duy còn Ngươi với Ta.” |
Khuôn mặt Thượng Tọa sáng ngời trong ánh nến, và tôi thấy người tu sĩ trẻ trung đầy nhiệt huyết của năm nào vẫn đang sống động trong Người. Năm 1975, Thượng Tọa đến Bảo Lộc để tận mắt nhìn thấy Phương Bối mà Sư Ông đã viết trong Nẻo Về Của Ý. Sư Ông lúc đó đã xa quê hương hơn 10 năm, và Thượng Tọa chứng kiến cảnh điêu tàn đau thương của Phương Bối. Thượng Tọa quyết chí làm sống lại tinh thần của Phương Bối, tiếp nối được giáo lý và đường hướng đạo Bụt dấn thân của Sư Ông. Thượng Tọa đã ở lại Bảo Lộc, dựng một cái cốc mà hiện nay trở thành chùa An Lạc, và từ An Lạc “đẻ ra” bảy cái chùa khác (trong đó Bát Nhã là chùa sau cùng, xây năm 1998). Tất cả bảy chùa đều trong khu vực Bảo Lộc, Di Linh, và Bảo Lâm của tỉnh Lâm Ðồng, vùng cao nguyên của miền nam Việt Nam. Ngoại trừ chùa An Lạc, sáu chùa còn lại đều nằm trong “vùng sâu vùng xa” của người dân tộc K-ho và những người di cư từ miền Bắc. Ba mươi năm qua, Thượng Tọa và các đệ tử của mình đã sống và giúp đỡ cho đồng bào trong mọi lãnh vực: tiêm chủng và chăm bệnh cho người dân nghèo; cúng đám cho gia đình họ mà không nhận tiền từ họ; luôn có quan tài trong chùa để cung cấp cho những gia đình quá nghèo khó. Nhận thấy có những phụ huynh phải bỏ con ở nhà lăn lóc một mình để đi làm, Thượng Tọa thành lập một lớp mẫu giáo dựa trên quy mô của chương trình Hiểu và Thương mà những người tác viên xã hội của Sư Ông đã triển khai ở Huế, Bình Trị và ở miền Nam. Năm 1998, Thượng Tọa qua Làng Mai và xin Sư Ông giúp mình mở mang chương trình Hiểu và Thương trong vùng cao nguyên Lâm Ðồng. Từ đó, các đệ tử tác viên xã hội của Sư Ông đã đến giúp Thượng Tọa gầy dựng và duy trì 39 lớp mẫu giáo cho hơn 1000 em nhỏ ở những khu vực hẻo lánh của Lâm Ðồng.
Trong buổi thiền trà, nhiều thầy và sư cô đã chia sẻ hạnh phúc và lòng biết ơn của mình đối với tăng thân. Rất nhiều vị còn muốn chia sẻ và hát cúng dường đại chúng, nhưng chúng tôi phải chấm dứt buổi thiền trà để mọi người được nghỉ ngơi và tỉnh táo cho buổi tọa thiền sáng mai lúc 4:30. Theo dự định, Therese sẽ đi thăm các chương trình Hiểu và Thương trong hai ngày sắp đến, và tôi sẽ đi theo để phiên dịch cho cô. Sáng hôm sau khi tôi lên xóm Rừng Phương Bối của quý thầy, tôi thấy Thượng Tọa đã sẵn sàng và đang chỉ cho cô Therese khu vực đất Thượng Tọa dự tính sẽ xây dựng thiền đường lớn. Thượng Tọa rất hy vọng ông John và những vị Phật tử hảo tâm khác phát nguyện hỗ trợ công trình xây dựng thiền đường này. Hiện giờ mỗi xóm có một cái thiền đường, nhưng quá nhỏ khi hai xóm sinh hoạt chung. Quý cô bác và người trẻ đến tham dự những ngày quán niệm ngày càng đông; chúng tôi ngồi san sát nhau và tràn ra cả hành lang và những bậc tam cấp. Có được một nơi để hàng trăm Tăng Ni quy tụ về để thực sự tu học và giúp đời là hoài bão mà Thượng Tọa đã “thai nghén” trong mấy mươi năm qua. “Có người đến tu là tôi thấy hạnh phúc, tươi mát rồi. Tôi làm gì cũng được,” Thượng Tọa thường nói với đại chúng.Thượng Tọa tin rằng nội trong 5 năm, sẽ có đến 1000 thầy và sư cô thường trú tại Bát Nhã để tu học. Tuy tôi mới về Bát Nhã chỉ trong 3 tháng, tôi nhận ra rằng cái thấy của Thượng Tọa không xa vời. Hoài bão này có thể trở thành hiện thực, nếu có đủ các thầy và sư cô được huấn luyện trong truyền thống Làng Mai trở về Bát Nhã để hướng dẫn cọng đồng mới mẻ này, và nếu chúng tôi được nâng đỡ trong mặt tài chánh để có thể xây dựng cơ sở cho các thầy và các sư cô sinh hoạt (như khu cư xá, thiền đường, nhà ăn, v.v.). Có rất nhiều người tìm lại được sinh khí của đạo Bụt qua chuyến về Việt Nam của Sư Ông. Họ thao thức muốn được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa của Làng Mai. Vì nhiều điều điện còn eo hẹp, chúng tôi phải giới hạn tuổi chiêu sinh từ 25 trở xuống (32 tuổi nếu có bằng đại học, và 35 tuổi nếu có bằng tiến sĩ). Hiện nay khu cư xá của các sư cô đã có hơn 170 vị; chúng tôi phải dùng giường tầng để có thể chứa đến 16 vị trong mỗi phòng 5x5 mét vuông. Vậy mà vẫn còn rất nhiều người đang trong danh sách đợi (on waiting list).
Thượng Tọa, bốn chú tác viên xã hội (chú Nghiệm, chú Đạm, chú Sanh, chú Lộc), cô Therese và tôi ngồi lên xe Van. Nhà trẻ đầu tiên chúng tôi đến thăm khá gần tu viện Bát Nhã. Những nhà trẻ này thật ra chỉ bao gồm 1 đến 3 phòng (3x4m), một nhà bếp nhỏ, và một phòng vệ sinh. Hầu hết các cơ sở được xây ở nơi hẻo lánh giữa những vườn trà, hoặc bên cạnh căn nhà mà thí chủ đã phát tâm cúng dường đất cho chương trình Hiểu và Thương. Khi chúng tôi đến ngưỡng cửa, các cháu đứng dậy và chắp tay búp sen chào chúng tôi: “Chúng con kính chào Thầy.” “Chúng con kính chào các bác.” Các cháu nhìn chúng tôi với những đôi mắt tròn xoe! Rồi các cháu vâng lời cô giáo lặng lẽ về lại chỗ ngồi của mình. Trong lớp học không có bàn và cũng không có ghế. Ba mươi mấy, bốn mươi mấy cháu đều ngồi dưới đất sát bên nhau dọc theo bốn bức tường. Có những lớp sàn nhà được lót gạch men, nhưng cũng có những nơi quá sâu trong rừng thì sàn nhà chỉ bằng xi măng. Các cháu phần đông giữa 3-6 tuổi. Có cháu nhỏ quá chưa ngồi được nên nằm trước các bạn. Therese và tôi ngồi xuống đất với các cháu. Cô giáo bắt đầu bài hát “Ðây Là Tịnh Ðộ” và các cháu đồng thanh hát: “Ðây là tịnh độ. Tịnh độ là đây. Mỉm cười chánh niệm, an trú hôm nay....” Rồi các cháu lại hát, “Thở vào thở ra. Là hoa tươi mát. Là núi vững vàng. Nước tĩnh lặng chiếu. Không gian thênh thang....” Các cháu 4-6 tuổi hát một cách thật hào hứng, bàn tay chắp lại thành hoa, thành núi. Các cháu bé hơn thì nhép miệng theo hoặc trố mắt nhìn.
Tại mỗi cơ sở, Therese đều hỏi tại sao chương trình Hiểu và Thương cần thiết ở địa phương đó, lớp học được hình thành khi nào, và có bao nhiêu cháu và cô giáo trong mỗi lớp. Câu trả lời của các chú tác viên xã hội vàcác cô giáo ở mỗi nơi đều tương tự như nhau. Chính quyền địa phương ở những nơi đó chỉ có trường cấp I cho các em từ 6 tuổi trở lên, và phụ huynh phải trả tiền học phí và tiền ăn. Rất nhiều cha mẹ không có tiền để gởi con đến trường. Họ là những người dân tộc sống trong vùng cao nguyên, và khi người thành phố đến lập dựng vùng kinh tế mới, họ lại phải dọn sâu hơn nữa vào trong những miền rừng núi. Cũng có những người di cư vào từ miền Bắc, theo công ty tơ tằm để làm việc trong những năm 1980. Khi công ty tơ tằm bị đóng cửa, những người công nhân này đã không có đủ điều kiện để trở về bổn xứ của mình, nên họ phá rừng, trồng trà và cà phê để sinh sống. Trong quá khứ, nhiều phụ huynh đã để con của họ ở nhà chăm sóc nhau trong khi họ lên rẫy làm việc. Nhiều cháu đã bị tai nạn, té xuống giếng hoặc làm cháy nhà trong khi nhóm lửa nấu cơm. Vậy nên các phụ huynh đã cùng nhau đến xin Thượng Tọa giúp cho họ có một nhà trẻ cho con của họ. Thường thì một gia đình nào đó tự nguyện dùng một phòng trong nhà của họ cho chương trình Hiểu và Thương; cô chủ nhà cũng trở thành một trong những cô giáo. Lớp mẫu giáo đó phải dọn đi ít nhất 3-4 chỗ, trước khi các phụ huynh có thể quy đủ tiền để mua đất và cùng nhau xây một cái “nhà trẻ” trong địa phương của họ. Chương trình Hiểu và Thương giúp mua đất (nếu phụ huynh không thể quyên góp đủ tiền), mua vật liệu xây dựng (phụ huynh để công ra cùng nhau xây nhà trẻ), giúp làm giếng, trả tiền cho các cô giáo hằng tháng, và cho các cháu ăn ngày hai buổi cộng một ly sữa đậu nành. Có những phụ huynh đã chia đất của họ cho chương trình.Tôi gặp một cô giáo hiện đang dùng nhà của mình để giữ trẻ, và vợ chồng cô cũng xin cho miếng đất kế bên nhà của họ để xây nhà trẻ (nhưng chương trình chưa có tiền để tiến hành). Nhà của cô chỉ có hai gian, vách đất và sàn cũng bằng đất. Tôi không cầm được sự tò mò nên hỏi cô, “Cô chú rất nghèo. Tại sao cô chú không bán đất mà lại hiến cho chương trình Hiểu và Thương?” “Chúng con không bao giờ bán đất đâu!” cô ta trả lời một cách cương quyết. “Vậy thì tại sao cô chú lại cúng dường đất?” tôi lại hỏi. “Vì Sư Ông và quý Thầy, quý sư cô làm việc từ thiện, nên chúng con cũng muốn đóng góp phần của chúng con vào.” Tôi ngồi lặng yên một hồi lâu. Hai cháu gái của cô cũng đang giúp cô giữ trẻ. Tôi hỏi cháu nhỏ hơn, “Con có cảm thấy khó chịu khi trong nhà luôn có nhiều con nít quá không?” “Không đâu Sư Cô ạ,” em trả lời. “Vậy con có thích không?” “Con thích lắm ạ,” và em mỉm cười thật xinh. “Con giúp với những việc gì?” tôi hỏi thêm. “Khi con đi học về, con phụ mẹ rửa tay chân của các em,” em trả lời. Tôi quay qua hỏi chị của em, “Con cũng giúp mẹ giữ trẻ à?” “Vâng ạ,” em nhỏ nhẹ trả lời. “Con còn đi học không?” “Dạ không ạ. Con nghĩ học từ năm lớp tư.” “Con có muốn đi học không?” “Dạ có ạ,” em trả lời, giọng em lại càng nhỏ hơn. “Em có buồn vì không được đi học không?” Em chỉ nhìn xuống đất và da mặt em nhìn tái xanh. Tôi vuốt mái tóc mây của em và thở. Khi chúng tôi rời căn nhà đó, Therese đã nói với tôi, “Tội nghiệp quá! Cô ta là cô giáo mà tiền lương không đủ để cho con của mình đi học!”(It’s so sad that her salary as a teacher cannot put her own children to school!”
| Sau đó chúng tôi đến thăm một nhà trẻ của người dân tộc K-ho. Cô giáo chỉ mới 24 tuổi. Cô ta đã học xong trung học và được học bổng ở một trường đại học trên thành phố, nhưng cô đã chọn ở lại và dạy đồng bào của mình. Cô dạy thanh thiếu niên và người lớn trong vùng một lớp bổ túc ban đêm, và nhờ lớp của cô, nạn mù chữ đã không còn nữa trong vùng này. Ban ngày, cô chăm sóc các cháu nhỏ và dạy các cháu nói, đọc, và viết tiếng Việt. Mỗi năm cô dẫn các cháu vừa lên sáu đến trường để vào lớp 1. Cô đi bộ với các cháu đến trường và ngồi trong lớp với các cháu mười ngày liên tục như thế, để các cháu đỡ sợ và có cơ hội làm quen dần với môi trường mới. |
 |
Sau đó cô trở về tiếp tục với lớp trẻ của cô. Chỉ có một mình cô chăm lo và dạy ba mươi mấy cháu, và một cô lớn tuổi hơn giúp nấu thức ăn sáng và trưa cho các cháu. Chúng tôi lại đi sâu hơn vào vùng rừng núi để đến thăm một nhà trẻ khác cũng của người dân tộc. Chính quyền địa phương đã được lệnh xây dựng trường cấp I trong mỗi huyện, nhưng rồi rất nhiều trường bị bỏ hoang vì phụ huynh không có tiền để trả học phí cho con của họ. Thượng Tọa đã mượn một trong những trường này cho chương trình Hiểu và Thương. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy các trường công cộng cấp I, cấp II trong vùng này chỉ gồm có những phòng học khá lớn, nhưng không có nhà vệ sinh và nơi rửa tay (chẳng lẽ cả thầy lẫn trò đều phải đi thiên nhiên ngoài vườn trà, mà những cây trà thì thật sự chỉ cao hơn đầu gối!). Các cháu ở nhà trẻ này cũng là người K-ho, da sậm đen và đặc biệt khá nhỏ con. Hầu hết các cháu mặc quần áo rất cũ, và nhiều cháu không có vớ và không có nón. Sáng hôm đó trời rất lạnh và gió rít lên từng đợt, nhưng các cháu ngồi trên một chiếc chiếu mỏng lót trên sàn xi măng. Trong phòng không có đồ chơi hay đồ trang trí nào cả. Các cháu ngồi thật yên trong im lặng. Tôi ẳm một em gái vào lòng. Cô giáo liền nói với tôi, “Cháu bé này gia đình tội lắm. Bố cháu chết vì tai nạn xe cộ đúng một năm vào mùa cà phê như thế này. Mẹ của cháu chỉ mới 22 tuổi mà phải chăm lo hai đứa con. Nhà nghèo lắm.” Bé gái 17 tháng, nhưng khi tôi dựng em lên, em chỉ đứng được vài giây rồi ngồi bệt xuống. Mặt của em xinh và bình yên như vành trăng tròn, đôi mắt mở to. Mỗi lần chúng tôi đến thăm một nhà trẻ là chúng tôi lại thêm một lần ngạc nhiên bởi ánh mắt và cung cách của các cháu. Các cháu rất yên và lặng lẽ, nhưng không phải là một sự uể oải hay mệt mỏi của cơ thể hay tâm hồn (again and again at each location, Therese and i were deeply struck by the children’s eyes and their demeanor. They were so quiet and still, but it was not a kind of flacidity or lethargy of body and mind.) Mắt của các cháu mở tròn, tĩnh lặng, nhưng thấu suốt (their eyes were wide-open and calm, yet penetrating). Tôi thấy các cháu như những thiền sư trong thiền định, với tư thế ung dung và chấp nhận (i saw them as Zen masters in meditation, with ease and acceptance). Cô giáo của các cháu cũng là người địa phương. Trước đó lớp có hai cô giáo, nhưng một cô đã nghĩ việc, nên cô giáo còn lại phải vừa chăm sóc vừa nấu ăn cho hơn 25 cháu. Cô đã làm như thế 4 tháng nay, mỗi tuần sáu ngày. Ấy vậy nụ cười của cô thật rạng rỡ. Cô di chuyển một cách nhanh nhẹn và đầy niềm vui, nài nỉ chúng tôi uống trà và ăn vài cái bánh (thật tình tôi rất đói bụng, nhưng tôi không nỡ ăn bánh của các cháu).
Chúng tôi đi thăm 4 nhà trẻ sáng hôm đó, về lại tu viện để ăn trưa, rồi lại đi thăm 3 cơ sở khác. Khi chúng tôi đến nhà trẻ cuối cùng của ngày hôm đó, các cháu đã được cha mẹ đến chở về nhà. Chúng tôi ngồi lại uống trà với hai cô giáo và một bà cụ cũng có cháu tham dự trong chương trình. Ngụm trà đặc biệt có vị thơm và chát đọng lại nơi cuống họng. Một cô giáo giải thích cho Therese và tôi rằng hầu hết những vườn trà trong vùng này thuộc về công ty của người Taiwanese. Họ ký hợp đồng dùng đất của mình trong 50 năm. Những người dân làm công cho họ chỉ được uống lá trà phía dưới gốc, gọi là “chè,” còn những đọt trà non chỉ dùng để xuất khẩu, gọi là “trà.” Tôi nói “Vậy chắc con đang được uống trà.” Bà cụ cười ngỏn ngoẻn, và nói “Ðây là dịp hiếm có Thầy và các cô đến thăm, nên tôi ra ngoài vườn hái vài lá trà non.” Răng của bà được nhuộm đen từ lúc 16 tuổi. “Mọi người đều nhuộm răng vào thời đó nên tôi cũng nhuộm theo.” Tôi hỏi bà đã bảy mươi mấy tuổi mà sao răng của bà vẫn còn nguyên vẹn. Bà cụ trả lời rằng “nhuộm răng và nhai trầu giúp không bị sâu răng.” Bà cười tươi, để lộ hai hàm răng đen nhánh. Tôi hỏi các cô giáo có mệt không khi phải chăm sóc các cháu từ sáng đến chiều tối (6:30 sáng đến 5:00 chiều), và chỉ có một ngày nghỉ trong tuần (các cô lại phải dùng ngày đó chăm lo việc nhà). Các cô cười thật hiền, với sự chấp nhận và chịu đựng. “Các cô nuôi dưỡng mình như thế nào?” “Chúng con đến chùa Bát Nhã mỗi tháng ít nhất một lần. Các thầy và sư cô ở đấy dạy chúng con cách chăm sóc chúng con và các cháu,” một cô giáo trả lời. “Pháp môn thực tập giúp cô như thế nào?” “Con học đem niềm vui cho người khác. Con không còn nổi giận như trước nữa. Nếu con không nghe tiếng của các cháu vài hôm, con lại nhớ các cháu,” cô nói.
Bốn chú tác viên xã hội ngồi kế bên tôi đều đã trên sáu mươi tuổi. Họ là những thanh niên trong lứa tuổi hai mươi ngày họ tham dự trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội do Sư Ông thành lập. Họ đã được học rất nhiều môn và khoa, từ các truyền thống tôn giáo, đến nông nghiệp (agriculture), y tế, chăm nuôi gia súc, v.v...Họ đã đi đến những vùng chiến tranh để giúp dân làng xây dựng lại nhà ở, nối lại những cây cầu gãy, đắp lại những con đường hư, làm tạm những lớp học và trạm y tế....Bốn lớp với hơn ba trăm tác viên xã hội đã được đào tạo, trước khi Sư Ông rời Việt Nam. Nơi hải ngoại, Sư Ông đã tiếp tục liên lạc và hướng dẫn những người cận sự của mình. Sau 1975, tất cả việc làm xã hội của họ đều bị đình chỉ, và họ cũng đã bị mất liên lạc với Sư Ông gần 15 năm. Sau khi sự truyền thông được tiếp nối, họ đã bắt đầu công tác xã hội trở lại. Hiện nay chỉ còn hơn 30 tác viên làm việc trong ba miền Bắc, Trung, và Nam. Mỗi năm các cô chú lại đoàn tụ và cùng nhau tưởng nhớ 76 anh chị em tác viên đã mất trong khi làm công tác xã hội. Trong khi các chú thay phiên nhau kể cho cô Therese và tôi nghe về cuộc đời phụng sự của họ, khuôn mặt của các chú tươi sáng và điềm nhiên như trong khi các chú phát bánh kẹo cho từng cháu ở mỗi nhà trẻ. Mỗi tháng một lần, các chú thay phiên nhau đi hai người để đến thăm và kiểm tra chất lượng sinh hoạt cũng như thức ăn của các cháu. Có những nhà trẻ rất sâu trong núi mà chúng tôi đã không thể đi xe hơi đến. Các chú kể: “Ðó là những cuộc mạo hiểm thú vị của chúng con. Chúng con phải gắn dây xích vào bánh xe gắn máy như xe tăng của nhà binh, vì đường xá rất bùn lầy, nhất là trong mùa mưa. Tụi con bị té hoài à.” Các chú nhìn nhau cười thật tươi như những cậu học trò, làm cô Therese cũng thấy hào hứng và hứa rằng lần tới cô sẽ mang theo mũ an toàn (helmet) để được đi lên những nơi ấy. “Cái gì nuôi dưỡng Bồ Ðề tâm của các chú trong mấy mươi năm qua?” tôi hỏi. “Tình thương và sự trung thành đối với Sư Ông của chúng con,” chú Nghiệm trả lời không một chút do dự, và chú Đạm, chú Sanh, chú Lộc gật gù tán thành. “Sự tu tập cũng là yếu tố nuôi dưỡng chúng con. Chắc chắn chúng con không thể tiếp tục làm những việc này nếu vì tiền.” Các chú đều mong muốn những người trẻ tiếp nối sự nghiệp phụng sự này. Chú Nghiệm có một cô con gái đi tu là sư cô Túc Nghiêm; sư cô chăm chỉ tu học, hết lòng làm việc cho đại chúng và nhiệt tình chăm sóc thiền sinh. Chú Đạm kể rằng chú đã cố gắng thuyết phục con trai của chú làm việc xã hội, nhưng con của chú than rằng tiền lương ít quá, không đủ để nuôi gia đình. “Người trẻ bây giờ không có phương hướng và lý tưởng. Họ chỉ muốn hưởng thụ thôi. Chúng con tin rằng chỉ có giáo lý và pháp môn của Sư Ông mới có thể cứu được những thế hệ trẻ của đất nước mình.” Therese cũng chia sẻ mối quan tâm tương tự của cô về thế hệ trẻ ở nước Mỹ. Cô đã rời Mỹ hơn hai mươi năm để làm việc xã hội ở những nước Á Châu, và cô chỉ trở lại bổn xứ cách đây 3 năm, khi nước Mỹ bắt đầu chiến tranh với Iraq, với ý nguyện giúp người Mỹ có ý thức hơn về người dân ở các nước khác. Cô nhận thấy rằng người trẻ ở Mỹ không có hướng đi. Cô đã tạo điều kiện để ít nhất tám sinh viên đại học trong trường của cô được qua Á Châu mỗi năm, với hy vọng rằng họ sẽ tìm thấy ý nghĩa trong việc phụng sự xã hội. Tôi tin rằng trong hai ngày mà cô Therese đi thăm viếng các nhà trẻ với chúng tôi, cô đã khám phá ra tầm quan trọng của đời sống tâm linh trong việc làm của chúng tôi. “Nạn đói và nạn nghèo là một thứ khổ,” Thượng Tọa nói với cô Therese. “Nhưng sự thiếu thốn của đời sống tâm linh là một cái khổ to lớn hơn nhiều. Người dân trong những vùng này rất nghèo, nhưng họ sống thật thà và hạnh phúc,vì họ có sự thực tập tâm linh. Nếu không, họ sẽ sống đen tối hơn nhiều.” Tôi chợt mỉm cười, lòng tràn ngập hạnh phúc. Ðẹp thay những con người đang bao quanh tôi! Những con người sống thật và thủy chung với tuổi trẻ, tình yêu, và lý tưởng của mình.
Cuối ngày thứ hai của cuộc thăm viếng, chúng tôi đến thăm chùa An Lạc của Thượng Tọa. Bốn mươi mấy chú điệu đã đứng xếp hàng đợi chúng tôi. Có mấy chú mới 5, 6 tuổi với 3 cái chỏm trên đầu nhìn quá dễ thương! “Có mấy chú cha mẹ chết hết rồi, còn nhiều chú khác gia đình nghèo lắm, cha mẹ nuôi không nổi,” Thượng Tọa giải thích. Thượng Tọa nuôi các chú và cho các chú đi học. “Khi mấy ông học xong trung cấp, mấy ông sẽ vào Bát Nhã để được huấn luyện theo pháp môn Làng Mai, rồi đi đến những vùng sâu vùng xa phục vụ cho đồng bào,” Thượng Tọa nói và mỉm cười nụ cười hiền và hóm hỉnh của Người. Khi các chú được 16 tuổi, các chú sẽ có cơ hội được chọn ở lại làm người tu hay xin ra đời. “Hơn 90% chọn ở lại để xuất gia,” Thượng Tọa nói. Thức ăn đã được các chú dọn lên bàn. Chúng tôi ngồi xuống, cô Therese ngồi kế bên Thượng Tọa. Trong buổi ăn, cô chia sẻ rằng cô đã làm việc xã hội với rất nhiều quý thầy ở Thái Lan, Burma, Ấn Ðộ và các nước Á Châu khác trong hai mươi mấy năm qua. Nhưng luôn luôn cô ta phải ngồi từ đằng xa và tuân theo nhiều nghi lễ; điều này làm cho cô cảm thấy sợ và không thoải mái với các thầy. Ðây là lần đầu tiên cô được ngồi cùng bàn với một vị cao tăng, và cô cảm thấy thật dễ chịu và bình an. Thượng Tọa cười và nói, “Các thầy trong truyền thống của Sư Ông còn được huấn luyện đi giặt giũ và tắm rửa cho người bệnh. Tôi đã từng đi tiêm chủng cho rất nhiều người. Bây giờ tôi không làm được việc đó nữa vì tôi phải trông coi nhiều việc ở Bát Nhã.” Vào cuối buổi ăn, Thượng Tọa nhìn từng khuôn mặt của chúng tôi, rồi Thượng Tọa nói với các chú tác viên, “Mấy chú có gì muốn nói với cô Therese thì nói đi. Ðể mai đi Sài Gòn không có cô Ðẳng Nghiêm thông dịch, mình sẽ thực tập im lặng và dùng tay làm dấu!” Mọi người cười ồ lên. Sau một hồi im lặng, chú Nghiệm nói, “Xin cho chúng tôi gởi lời thăm ông John. Sự yểm trợ tài chánh của ông giúp cho các cháu rất nhiều.” Rồi mọi người lại im lặng. “Xin chúc cô đi bình an,” chú Đạm nhắn nhủ. Tôi dịch câu đó cho cô Therese, và tất cả chúng tôi lại cười ồ lên, vì ngày mai Thượng Tọa và bốn chú tác viên sẽ còn ít nhất 5, 6 tiếng đồng hồ ngồi cùng xe với cô trên đường lên Sài Gòn.
Trong khi đi ra xe để về lại Bát Nhã, cô Therese nói với tôi rằng cô hạnh phúc cho tôi, vì tôi đã tìm được một đoàn thể thật tuyệt vời (extraordinary) để cùng chung sống và làm việc. Tôi đáp lại rằng nếu không vì những lời dạy của Sư Ông và vì một tăng thân như thế này, tâm tôi sẽ vẫn còn trăn trở, trạo cử không nguôi (if it were not for Thầy’s teachings and for this kind of community, my heart would still be restless). “Nhưng bây giờ thì tâm tôi an rồi, và tôi chỉ mong ước được sống đời người tu và phụng sự cho đến giây phút cuối cùng,” tôi chia sẻ với cô. Trước khi chúng tôi chia tay, tôi ôm cô vào lòng. Tôi theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra của tôi, cảm nhận sâu sắc sự hiện diện của cô trong vòng tay tôi. Ðây là điểm giao tiếp của cuộc đời của chúng tôi với nhau. Chúng tôi đã chia sẻ những giây phút đẹp và đầy ý vị. Tôi ý thức rằng có thể tôi sẽ không bao giờ gặp lại cô bằng xương bằng thịt, nhưng chúng tôi sẽ mãi có trong nhau. Và những đôi mắt của các em sẽ luôn nhắc nhở chúng tôi hãy nhìn sâu vào con đường mình đang đi, và xin nhớ. Nhớ. Nhớ.
Đẳng Nghiêm
Bát Nhã - 12/2005 |