Tu Viện Lộc Uyển
Kính chào quý vị,
Chúng ta đã về, chúng ta đã tới.
Kính xin quý vị
cùng thở sâu và nhẹ.
 

Bình Thơ: "Thơ Từng Ôm và Mặt Trời Từng Hạt" (Pháp thoại cuối năm Ất Dậu)

 

Kính thưa đại chúng

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 28 tháng 1 năm 2006, cũng là ngày 30 Tết, chúng ta đang ở tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Pháp quốc. Bài pháp thoại hôm nay được chuyển về Việt nam. Sáng hôm nay, vào lúc 9 giờ, tuyết bắt đầu rơi, và hiện giờ các thầy của xóm Thượng đã tới được xóm Mới đông đủ, nhưng các sư cô xóm Hạ, vì đường trơn quá không tới được. Không biết là xe của các sư cô còn bị kẹt giữa đường hay đã trở về được xóm Hạ rồi?

Ở trong thiền viện chúng ta đều có cơ hội ngồi yên mỗi ngày nhiều lần. Và đó là quyền lợi của những người tu, có cơ hội ngồi yên. Trong xã hội ngày nay, những người có cơ hội ngồi yên rất là hiếm. Và hôm nay là ngày cuối năm âm lịch, chúng ta cũng có cơ hội để ngồi yên với nhau. Cố nhiên là nhiều người trong chúng ta phải bận rộn lo tết. Nhưng tại thiền viện chúng ta vẫn có thì giờ ngồi yên. Đó là một điều rất hay. Và thì giờ ngồi yên đêm 30 tết hết sức là đặc biệt, tại vì chúng ta có ý thức rằng một năm cũ sắp qua, và một năm mới sẽ đến. Trong giờ phút ngồi yên này, chúng ta có thể thấy được rất nhiều. Năm nay chúng ta được ngồi chung, và chúng ta nên ý thức rằng các thầy, các sư chú, các phật tử chùa Từ Hiếu cũng được ngồi chung với các thầy, sư cô, phật tử ở Làng Mai. Các thầy, sư chú, sư cô ở tại tu viện Bát Nhã cũng đang được ngồi chung với các thầy, sư chú, và phật tử ở chùa Từ Hiếu và Pháp Vân. Các vị ở Pháp Vân cũng vậy, tu sĩ cũng như cư sĩ đang có cơ hội ngồi chung với các vị đồng tu ở bên Pháp, cũng như ở Huế và Bát Nhã. Tôi vừa mới thỉnh ba tiếng chuông, và tôi sẽ thỉnh thêm một tiếng nữa. Xin mời quý vị ngồi cho yên, chúng ta ngồi cho cha cho mẹ, cho tổ tiên, chúng ta ngồi cho con cháu của chúng ta. Chúng ta biết rằng khi chúng ta ngồi yên được thì cha mẹ của chúng ta trong chúng ta cũng ngồi yên được. Và tổ tiên của chúng ta trong chúng ta cũng ngồi yên được. Đó là một tặng phẩm rất lớn mà chúng ta có thể hiến tặng cho cha mẹ, cho tổ tiên của chúng ta, và cho cả thế giới. Ngồi yên là một cái gì rất đặc biệt, rất quý hóa. Trong chúng ta người nào có khả năng ngồi yên thì người đó có khă năng có hạnh phúc, và có khả năng giúp cho cuộc đời bớt khổ. Ngồi yên ta sẽ thấy cha ta ở trong ta. Cha ta đang ngồi với ta, và có thể là trong suốt cuộc đời của cha, cha chưa từng có cơ hội được ngồi yên như hôm nay chúng ta đang ngồi yên. Chúng ta đang tiếp nối cha ta một cách đích thực, vì khi ta ngồi yên thì cha ta cũng ngồi yên. Hai cha con cùng ngồi trong một thân thể này. Chúng ta biết rằng khi chúng ta ngồi yên, có sự thanh tịnh, có sự vững chãi thì cha ta cũng có sự thanh tịnh và vững chãi. Đó là một điều hết sức mầu nhiệm, hết sức đẹp mà chúng ta có thể làm được, có thể hiến tặng được. Chúng ta có một người anh trai hay là một người em trai, hay một người chị, hay em gái. Chúng ta hãy nhìn vào người anh, hay chị đó, thì ta thấy cha ta ở trong đó. Cái cách nhìn cách mỉm miệng cưòi đó đích thực là cách nhìn và mỉm miệng cười của cha. Chúng ta thấy rất rõ là cha ta đang được tiếp nối nơi anh ta, chị ta, em mình, chị mình. Và khi chúng ta nhìn vào em gái hay chị gái thì chúng ta cũng thấy được mẹ. Cái kiểu chị cười là mẹ cười đó, không khác chi hết. Sự tiếp nối rất rõ ràng. Chúng ta cũng biết rằng mẹ ta đang được tiếp nối nơi ta, mẹ ta đang nhìn với con mắt của ta. Khi chúng ta ngồi yên như thế này thì mẹ cũng được ngồi yên. Có thể là cả đời mẹ vất vả, ngược xuôi, lo cho chồng cho con, chưa ngồi yên được, thì bây giờ mình ngồi cho mẹ, nhất là mình ngồi yên được trong những giờ cuối năm. Tổ tiên chúng ta đã từng trãi qua những cơn đói, và người nào trong chúng ta cũng tiếp nhận được hạt giống của sự lo lắng của tổ tiên. Lo không biết rằng có bị đói nữa không? Không có cơm ăn, chết đói là một nỗi lo rất lớn. Năm 1944 có 2 triệu người chết đói ở miền bắc Việt Nam. Buổi sáng nào thức dậy cũng thấy hàng ngàn thây người chết. Và hình ảnh đó bám vào trong trí óc của mình. Có thể là ông bà cha mẹ chúng ta đã từng trãi qua những trận đói như vậy. Và hễ khi nào có được chút thì giờ thì nghĩ đến chuyện tăng gia sản xuất để mà dự trữ thức ăn. Và cái chuyện không làm gì hết trở ra thành cái món quà xa xỉ. Ngày xưa vì đói mà chúng ta bận rộn, cha ông của chúng ta bận rộn suốt đời. Bây giờ đây, kinh tế đã phát triển, và người ta đã có nhiều thực phẩm, có nhiều cơ hội để tiêu thụ, nhưng mà người ta cũng bận rộn như xưa, có thể là còn bận rộn hơn cả ngày xưa. Ở những thành phố lớn như Hà nội, Sài gòn, Huế, người ta bận rộn vô cùng. Cái cơ hội ngồi yên cũng không có. Khi mà đói, bận rộn thì đã đành rồi, nhưng khi mà có nhiều thực phẩm, có nhiều hàng hóa, mà chúng ta có thanh thản, có ngồi yên được đâu. Chúng ta vẫn bận rộn gấp trăm lần ngày xưa, không có khả năng ngồi yên. Và vì vậy trong những giờ phút cuối năm mà chúng ta có thể ngồi yên đó là một phép lạ. Chúng ta ngồi yên cho cha mẹ, tổ tiên, con cháu, cho thế giới. Chỉ khi nào chúng ta ngồi yên thì chúng ta mới biết chúng ta đang đi về đâu, với tư cách của một con người, tư cách của một dân tộc, một quốc gia, của thế giới. Chúng ta đang đi về đâu? Xin quý thầy, quý sư cô, sư chú ngồi cho thật yên, và trong khi ngồi yên mình có được hạnh phúc của sự ngồi yên. Tại vì ngồi yên là một cơ hội rất lớn, một hạnh phúc rất lớn. Chúng ta rất giỏi, chúng ta có thể làm được rất nhiều việc. Chúng ta xây chùa, chúng ta lập hội, chúng ta giảng dạy, chúng ta tổ chức, chúng ta kinh doanh rất là giỏi. Có một cái chúng ta không giỏi, đó là chúng ta không yên, không ngồi yên được. Và khi chúng ta đi, chúng ta đi như bị ma đuổi. Chúng ta không có thì giờ để sống cái đời sống hàng ngày của chúng ta một cách sâu sắc. Điều này có liên hệ tới nền văn minh của con người.

Trong chuyến về thăm quê hương hồi năm ngoái, giờ này chúng ta đang ở tại chùa Pháp Vân. Tôi có nhìn thấy được một số các điều. Điều thứ nhất là một điều rất hay, đó là giá trị của đạo đức đích thực. Khi mà có đạo đức đích thực thì mình có thể chuyển hóa được con nguời và xã hội. Điều này làm tôi rất phấn khởi. Những người rất khó chịu, những người rất bạo động, đầy hận thù, rất ngang bướng, không có tình nghĩa, những người đa nghi, vậy mà khi mình có đạo đức chân thật, mình có tình thương thì mình có thể chuyển hoá được hết, rất là hay, chuyển hóa từ từ hoặc là chuyển hoá mau chóng. Đó là nhận xét đầu tiên của tôi về chuyến đi Việt nam hồi năm ngoái. Điều thứ hai là những người làm việc trong chính quyền, trong giáo hội, người nào cũng có hai gương mặt. Khi mình đi với Bụt thì mình mặc áo casa, và khi mình đi với ma thì mình mặc áo giấy. Và bất cứ người nào làm việc trong chính quyền, trong đảng, trong giáo hội đều có hai gương mặt như vậy hết, rất là lạ. Và mình hỏi nếu mình ở Việt nam thì mình có làm như vậy không? Mình phải có hai bộ mặt, một cái mặt nạ để mang lên ? Điều này rất là rõ. Tại vì trong chuyến về tôi đã tiếp xúc với những người trong đảng, ở trong chính quyền, ở trong giáo hội, và tôi thấy người nào cũng có hai bộ mặt. Khi thì dùng cái mặt này, khi thì dùng mặt khác, nếu không có hai cái mặt đó thì không sống được. Và tôi không có trách móc, nhưng mà tôi đặt câu hỏi: nếu phải sống như vậy thì đó có phải đích thực là một nền văn minh không? Tại sao mình không có được cái cơ hội, cái khả năng cho người kia thấy được con người thật của mình, mà mình phải sống với con người giả, nếu mình muốn thành công. Thành công trong cái mà mình gọi là 'Phật sự'. Điều này làm tôi lo lắng rất nhiều. Chúng ta cần bao nhiêu năm để vượt thắng được tình trạng này, chúng ta cần phải đeo mặt nạ tới bao giờ? Chính trong khi làm việc đạo, mình phải đeo mặt nạ. Và chính điều này làm mình rất đau xót. Đây không phải là đứng về phương diện tôn giáo mà nói, đây là đứng về phương diện văn hóa mà nói. Phát triển kinh tế để làm cái gì, phát triển giáo dục để làm cái gì trong khi chúng ta không sống được với nhau như những con người chân thật. Và vì vậy cho nên chỉ có một câu trả lời duy nhất thôi: là phải tu. Phải có đạo đức chân thật, tình thương chân thật thì mình sẽ có khả năng, con cháu của mình sẽ có khả năng sống chân thật, mà không cần phải đeo một cái mặt nạ. Tại vì trong tình trạng hiện tại, không đeo mặt nạ thì không sống được. Trong chuyến về Việt Nam đầu năm ngoái, tôi nhận thấy rằng cái tâm đạo của người phật tử Việt nam vẫn còn nguyên vẹn, từ Bắc cho đến Nam. Cái tâm đạo đó là nguồn năng lượng rất lớn, và nếu chúng ta khai thác được thì chúng ta có thể xây dựng một nếp sống đẹp đẽ của văn hóa, của đạo đức, của tình người. Nhưng mà theo cái kiểu hành đạo ở Việt nam thì tôi thấy chúng ta chưa khai thác được nguồn năng lượng vĩ đại đó của tâm đạo. Chúng ta chỉ khai thác được để xây dựng cơ sở, tạo ra được những hình thức sinh hoạt có tính cách bề ngoài. Chúng ta không sử dụng được năng lượng hùng hậu đó để xây dựng lại cơ cấu gia đình, để làm mới được con người, để chữa lành các thương tích gây nên bởi chiến tranh, bởi nghi ngờ, bởi sợ hãi. Và chúng ta đang bị cuốn theo một cơn lốc, chúng ta quá bận rộn, chúng ta không có thì giờ ngồi lại như những cá nhân, như một tập thể để tìm ra những phương pháp cứu chữa cho tình trạng hiện nay. Tôi nhận thấy rằng cách tổ chức tu học của chúng ta, cách học, cách tu của chúng ta còn rất là hình thức. Những sinh hoạt của chúng ta chỉ có thể xoa dịu một vài khổ đau trên bề mặt. Cái học và sự thực tập của chúng ta chưa có khả năng đào sâu để đi tới sự trị liệu và chuyển hóa. Tôi xin thỉnh một tiếng chuông để quý vị cùng thở và cùng có ý thức rằng chúng ta đang có cơ hội ngồi yên với nhau, tại vì còn mấy giờ đồng hồ nữa là hết năm cũ sang năm mới.

Sau gần 40 năm xa quê hương, tôi trở về và thấy tất cả đều thay đổi, ngay cả chùa tổ. Chùa tổ bây giờ không phải là chùa tổ của ngày xưa. Tôi không cảm thấy thoải mái như ngày xưa, sự thật là như vậy. Chùa Pháp Vân cũng vậy, hoàn toàn không giống ngày xưa gì hết. Thành phố đã xích tới quá gần, điều đó là sự thật. Nhưng còn có cái gì khác nữa, chứ không phải là cái chuyện thành phố bao quanh. Các vị đã sinh ra và lớn lên trong thời gian tôi vắng mặt, có thể không thấy được sự thay đổi. Bởi vì quý vị chưa có cái kinh nghiệm sống trong không khí chùa tổ cách đây 40 năm. Có một cái tin mà tôi cho là tin mừng, đó là trong suốt năm qua, loa phóng thanh của xã phát mỗi ngày, vọng vào chùa tổ, bây giờ đã ngừng phát. Trong thời gian tôi trở về chùa tổ năm ngoái, tôi nghe mỗi ngày ra rã 2, 3 lần phát thanh, như vậy đâu có sự thanh tịnh của chùa. Chùa Pháp Vân ngày xưa rất là thanh tịnh, bây giờ chợ búa bao quanh, và có trường trung học Trần Phú kế bên nữa, thành ra không bao giờ có sự yên tĩnh. Cố nhiên mình không thể đòi hỏi mọi sự vật không thay đổi, bởi vì mọi vật đều vô thường. Ngày xưa nó là như vậy, bây giờ mình đòi hỏi nó như ngày xưa, thì làm sao được. Cái gì cũng phải thay đổi, tâm người thay đổi, sự vật cũng thay đổi. Nhưng mà có một cái không thay đổi, đó là điểm đầu tiên tôi đã nói. Đó là tâm đạo của người phật tử Việt Nam, nó vẫn còn y nguyên như xưa, vẫn còn tha thiết thương yêu nền đạo đức tâm linh của mình ngày xưa. Cái đó không thay đổi, nó vẫn còn y nguyên. Ngày xưa, vào khoảng 1930, 1940, 1950, có nhiều thanh niên Việt nam lìa xa gia đình để đi làm cách mạng và họ có một trái tim rất là trong sáng. Họ đã bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ người yêu để đi làm cách mạng. Và bản chất của cuộc cách mạng là đi giành độc lập cho dân tộc, rất là đẹp. Có biết bao nhiêu người trẻ tuổi đã ngã quỵ trên chiến trường, nhưng mà trái tim đó, tinh thần đó rất đẹp. Khi tôi trở về, tôi không thấy cái đẹp đó nữa, không thấy trái tim trong sáng đó nữa trong đảng, trong chính quyền. Người thanh niên đã hy sinh cuộc đời của mình cho lý tưởng, không tiếc thân mạng của mình, với điều kiện là họ có một niềm tin nơi tương lai của đất nước. Và cái niềm tin đó nó đi đôi với đạo đức, văn hóa. Khi mà đã nảy sinh ra sự nghi ngờ, tranh giành, loại trừ, tham nhũng thì cái niềm tin đó bị mất. Vì vậy cái đẹp của cuộc cách mạng, của đạo đức, nó không còn nữa. Người thanh niên thiếu nữ đã bỏ nhà, bỏ cha mẹ, bỏ người yêu để đi xuất gia cũng có một trái tim đẹp như vậy. Tôi đã từng mang một trái tim đẹp như vậy đi vào cuộc đời. Khi mình đi xuất gia như vậy, mình đi theo con đường lý tưởng của đức Thế Tôn ngày xưa. Đức Thế Tôn cũng có một mái gia đình, một địa vị lớn, một người yêu, nhưng mà tại vì thấy nhân loại, đất nước không có một nẻo thoát, cho nên Ngài đã bỏ hết tất cả để đi tìm con đường. Trái tim đó là bồ đề tâm. Khi tôi về năm ngoái, tôi đã thấy không biết bao nhiêu là thanh niên xuất gia nam cũng như nữ, đã đánh mất bồ đề tâm của mình. Tại vì những cái hư hỏng đã xãy ra trong chính quyền, trong xã hội, trong giáo hội của chính mình. Thấy rất là tội nghiệp. Chúng ta đã có khóa tu tại chùa Hoằng Pháp, chùa Từ Hiếu, chùa Bồ đề, và ở thiền viện Nguyên Thiều. May mắn là chúng ta đã có những khóa tu như vậy cho người xuất gia trẻ. Nhờ những khóa tu này mà nhiều người đã tìm ra được trái tim ngày xưa, thấy được con đường, thấy được lý tưởng của mình trở lại. Liệu những người đó có giữ được lâu bền cái mà họ vừa mới tìm lại được không? Tại vì nếu cứ tiếp tục sống trong một môi trường đầy dẫy sự tranh giành, loại trừ, hư hỏng, tham nhũng thì làm sao mà giữ được trái tim đó, niềm tin đó? Cái chí nguyện, cái ước vọng của người thanh niên xuất gia có đó, nhưng mà nó không được nuôi dưỡng. Và các bậc trưởng thượng có lòng muốn đứng ra bảo ban, nuôi dưỡng, đùm bọc, tôi thấy rất là ít, hầu như là không có. Cái hiện tượng cạnh tranh, ganh tỵ, đi tìm địa vị quyền thế trong giáo hội rất là nhiều. Phần lớn người ta đi tìm chỗ đứng, tìm địa vị, tìm những cái tiện nghi vật chất, tiện nghi tình cảm. Và khi người trẻ thấy những hiện tượng như vậy thì họ chán nản. Cố nhiên là ngày tết chúng ta họp mặt, ngồi chung với nhau, chúng ta bày phẩm vật cúng dường lên bàn thờ tổ tiên tâm linh và huyết thống, chúng ta bày tỏ niềm hiếu thảo của chúng ta đối với liệt vị tổ tiên. Chúng ta lạy, chúng ta tiếp xúc với tổ tiên, chúng ta ăn cơm với nhau, chúng ta cười nói với nhau, chúng ta làm văn nghệ, đọc sớ táo quân. Nhưng mà không có lý chúng ta chỉ làm những điều đó mà thôi? Tại vì những điều này chúng ta thường làm hàng năm. Chúng ta có thể nào ngồi xuống vạch cho nhau một con đường hay không? Có một sự bế tắc rất là lớn trong xã hội của chúng ta, trong truyền thống tâm linh của chúng ta. Chúng ta không thể nói sự bế tắc đó không có, không có nẻo thoát. Nếu chúng ta không có nẻo thoát cho chúng ta, thì làm sao chúng ta có nẻo thoát cho xã hội. cho thế giới? Cho nên cái quan trọng nhất là chúng ta ngồi cho yên, và chúng ta tìm được một nẻo thoát cho tâm ta. Dầu chúng ta chỉ là người mới thọ giới sadi, sadi ni, hoặc 5 giới thì chúng ta cũng phải có bổn phận làm chuyện đó. Tìm được lối thoát cho mình rồi thì lúc đó mình mới có thể nắm tay nhau, mở một đường thoát cho gia đình mình, cho cộng đồng mình, cho xã hội của mình. Tôi thấy các bậc trưởng thượng cao cấp cũng rất là bí, các bậc đại hòa thượng đang rất là bí. Tôi có niềm tin nơi người thanh niên. Ngày xưa đi tu lúc 16 tuổi, đã biết gì đâu, con đường tu học không rõ ràng. Nhưng biết rằng ngày xưa đất nước đã đi ngang qua những giai đoạn khó khăn, điêu linh. nhưng con đường tâm linh của đạo Bụt đã mấy lần mở được lối ra cho đất nước. Mặc dù còn nhỏ, nhưng tôi đã có một niềm tin hết sức vững chắc nơi con đường của Bụt. Lớn lên đi học, tìm đường, dù có gặp những khó khăn, những trở ngại, những ganh tỵ, những quấy phá thì tôi vẫn không nản lòng, bỏ cuộc. Tôi mong rằng các vị xuất gia trẻ, các thầy, sư chú, sư cô, những thanh niên phật tử ngày hôm nay nối tiếp được cái niềm tin đó, thao thức đó. Thế nào mình cũng tìm ra được con đường thoát. Một nền đạo đức tâm linh đã từng mở được lối thoát cho dân tộc, bây giờ được coi là một sinh hoạt mê tín. Những người xuất gia đại diện cho nền đạo đức, văn hóa đó được coi là những người đang làm ăn, họ đang hành nghề. Cái tối đa mà họ có thể làm được là xây dựng những ngôi chùa lớn, có một chức vụ nào đó trong giáo hội.

Trong đại giới đàn Cổ Pháp vừa rồi tại đạo tràng Mai Thôn, có nhiều vị xuất gia trẻ được truyền đăng. Và tôi rất hạnh phúc được truyền những cây đèn cho họ. Có những thầy, sư cô trẻ từ Việt nam qua thực tập hạnh phúc ở Làng Mai, có nói với tôi rằng: pháp môn đã cứu con ra khỏi tình trạng tuyệt vọng, con thấy rằng con đi xuất gia không uổng tuổi trẻ của con, tại con biết con sẽ làm được cái gì cho đất nước, cho nhân loại trong tương lai.

Thầy Trung Hải nói rằng: là người thanh niên xuất gia, sở dĩ họ hư hỏng là vì họ không thấy được không gian rộng lớn trước mặt mình, không thấy được cái lý tưởng. Khi mình cho những người thanh niên đó một không gian lớn, một lý tưởng thì tự nhiên những cái hư hỏng, những cái khó khăn đó không còn nữa. Tuy thầy Trung Hải chỉ nói một vài câu như vậy thôi, nhưng đủ để chúng ta thấy được thực trạng hiện tại. Sư cô Tín Nghiêm là người Mỹ gốc Đại Hàn, trong khi nhận đèn truyền đăng, có nói rằng: nếu sau này con sinh ra trở lại thì con sẽ đi con đường này nữa, con sẽ xuất gia nữa. Khi một người thanh niên nói được như vậy thì họ có niềm tin ở nơi con đường của mình đang đi. Họ thấy được con đường mà họ đang đi có thể mở ra lối thoát cho nhân loại, cho con người trong hiện tại. Những lời nói đó có khả năng nuôi dưỡng mình rất nhiều.

Ở Làmg Mai như lời Hoà Thượng Giác Quang nói: cơ sở đâu có gì đâu, ngồi xe từ phi trường Bordeaux về làng cứ tưởng tượng làng Mai đồ sộ thế này, đồ sộ thế kia, rốt cuộc đến nơi thấy không có gì nhiều, có vài cây thông, cây sồi mà thôi. Những điều kiện sinh sống ở làng Mai hết sức đơn giản. Tuy vậy những thiền sinh trên thế giới về làng rất là đông. Mùa hè năm ngoái có trên 4000 người về tu học, đại diện cho gần 50 nước. Trong số đó có rất nhiều người trẻ và trí thức. Những người thiền sinh về làng không giống những người Việt đi lễ chùa, họ không mang theo nhang đèn, lễ vật để cúng kiến gì hết. Họ đến làng Mai không phải để cầu nguyện, để cúng dường mà là để tiếp xúc với tăng thân, để tiếp nhận những pháp môn tu tập cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng mình. Kinh nghiệm của tôi cho thấy: con đường mà đức Thế Tôn khơi mở cho chúng ta là con đường tuyệt vời, rất đẹp. Tôi đang nói những câu này và nhìn ra ngoài cửa sổ thiền đường Trăng Rằm, thấy tuyết vẩn còn tiếp tục rơi. Tôi thấy rõ ràng rằng: giáo lý của đức Thế Tôn không có rắc rối như người ta tưởng. Người ta đã làm cho giáo lý của đức Thế Tôn rắc rối. Càng học càng thấy rắc rối. Học 5 năm thì rắc rối vừa, học 10 năm thì rắc rối thêm, học 20 năm rắc rối thêm nữa. Tôi tìm ra rằng: giáo lý của đức Thế Tôn rất là đơn giản. Nếu áp dụng vào thì nó có kết qủa liền lập tức, nó đem hạnh phúc lại cho mình liền lập tức. Cái điều mà tôi thấy, nếu như phải nói một câu gì cho đời, để đời nhớ mình thì tôi sẽ nói rằng tôi thực tập đạo Bụt có hạnh phúc lắm. Không có gì hạnh phúc bằng áp dụng những lời Bụt dạy vào đời sống hàng ngày của mình. Khi đi, khi đứng, khi cười, khi ăn cơm, khi rửa tay, khi làm việc, áp dụng vô là mình hạnh phúc liền lập tức. Cái hạnh phúc đó có thiệt, có thể có ngay trong giây phút hiện tại. Và bài thuyết pháp ngắn nhất của mình là 'đã về đã tới'. Nó hết sức là đơn sơ. Cái thông điệp hết sức đơn sơ 'đã về đã tới' có ai mà không hiểu? Ai mà không hiểu bốn chữ 'đã về đã tới' là an trú trong hiện tại. Nhưng có những người học Phật 20 năm, 40 năm vẫn không hiểu được điều đó. Giống như làm bộ là mình không hiểu được, không làm được. Mình có thể học Phật trong học viện 10 năm mà vẫn không có khả năng hiểu được 4 chữ 'đã về đã tới'. Hoặc nếu họ hiểu thì chỉ hiểu được cái ý của nó mà thôi, chứ mình không nắm được. Có điều lạ lùng là những người chưa bao giờ học Phật hết, họ tới họ nghe trong vòng 5, 10 phút là họ làm được liền, rất là hay. Trong khi đó có những vị hòa thượng đã học Phật 30, 40 năm mà vẫn không nắm được. Điều này là điều hết sức lạ lùng. Có thể họ nghĩ đạo Bụt rất cao sâu thâm diệu, nếu nó không thâm diệu thì nó không phải là đạo Bụt. Có lẽ vì nghĩ như vậy cho nên họ mới không tiếp nhận được giáo lý đạo Bụt.

Tôi có hứa là đêm 30 đọc thơ, mà tôi quên đọc thơ rồi. Bây giờ có tập thơ nào thì đem ra đọc một bài cho vui. Tôi xin đọc bài thơ 'thơ từng ôm và mặt trời từng hạt'. Thơ đối với tôi là một cái gì rất đẹp. Thơ ở đây không phải là tiêu khiển, nó là chất liệu nuôi dưỡng. Thơ tức là không khí mà mình thở, thơ tức là nắng để làm hoa nở. Thơ tức là trái đào tiên tháng tám, thơ tức là những bước chân mà mình đang đi. Thơ là một cái gì rất cụ thể, cái này dính tới cái kia. Trong bài thơ 'thơ từng ôm và mặt trời từng hạt' có một hình ảnh mái tranh nghèo đang đứng đợi ven sông. Đất nước Việt nam ngày xưa nghèo lắm, và hình ảnh 'quê hương tôi đất mặn đồng chua', những 'mái tranh nghèo đứng đợi ven sông', những hình ảnh đó, có thể mai này sẽ không còn nữa. Nhưng với thế hệ của tôi, đó là những hình ảnh rất bền. Hình ảnh người nông dân cầm liềm hoặc mang cuốc trên vai, cày, cuốc mồ hôi đổ xuống đất khô cằn, hình ảnh đó còn mãi. Bây giờ mình có hình ảnh những chiếc máy cày, những nông trại rộng lớn. Nông dân bây giờ sử dụng máy vi tính, sử dụng máy móc và làm ra rất nhiều tiền. Thành ra những hình ảnh này có thể làm ra những hình ảnh thi ca mà nó không còn thích hợp nữa.
'Nắng trên không gian và thơ trên nắng
Thơ làm ra nắng nắng ra thơ'
Ở làng Mai vào tháng tư, mình thấy nắng ấm và trời xanh, nếu mình đi tìm thơ thì thơ ở trong nắng, trong trời xanh. Thơ đó, nắng đó, trời xanh đó nuôi mình sau những tháng lạnh lẽo, buốt giá. Mình đi thiền hành ở xóm Thượng, xóm Mới hoặc là xóm Hạ, mình tiếp xúc với nắng với trời xanh và mình được nuôi dưỡng bởi những cái đó. Nó chính là thơ.
Nắng trên không gian và thơ trên nắng
Thơ làm ra nắng nắng ra thơ'
Thơ ở đây tức là sự sống, là chánh niệm. Nếu có nắng mà không có thơ tức là không biết rằng nắng có đó mà cũng như không. Vì vậy ở đây thơ là ý thức sáng tỏ, là những chất liệu nuôi dưỡng. Thân tâm mình có đó, nếu không có chánh niệm thì cũng không có nắng cũng không có thơ, cũng không có không gian,và không có gì hết. Cho nên ở trong hai câu thơ này, không có chữ nào là chánh niệm, nhưng chánh niệm là gốc của mọi thứ.

Nhờ có gì mà mình biết là có nắng trên không gian? Nhờ tâm của mình, nhờ chánh niệm cho nên mình biết rằng có không gian và nắng đang bay trên không gian, và thơ trên nắng.
Ở bên Mỹ có một trường phái triết học phát sinh ở Princeton nói là 'there is thinking in the blue sky'. Có tâm của mình ở trong trời xanh. Vì vậy cho nên không gian ở trên cao có tôi ở trên đó, có ý thức của tôi trên đó. Và nắng cũng ở trên đó, và tâm tôi cũng ở trên đó, chứ không phải chỉ ở trong thân của tôi mà thôi. 'Nắng trên không gian và thơ trên nắng' hai cái đó chuyên chở nhau. 'Thơ làm ra nắng nắng ra thơ', nếu không có nắng làm sao có thơ, nếu không có thơ làm sao có nắng. Đó là tương tức. Đó là gói quà tết.
Mặt trời cất chứa trong lòng trái khổ qua
Thơ bốc thành hơi trên bát canh mùa Đông, trong khi bên ngoài gió hú.
Mở ra 'mặt trời cất chứa trong lòng trái khổ qua', trái khổ qua là một món quà tết. Và nếu anh mở ra anh thấy cái gì? thấy mặt trời trong đó. Ngộ không? Nếu không có mặt trời chiếu hồi tháng 6, tháng 7, tháng 8 thì làm sao mình có trái khổ qua cất trong tủ đông đá. Tại làmg Mai, mình trồng khổ qua vào mùa hè, và nếu ăn không hết thì để dành trong tủ đá. Khi mùa đông đến, mình lấy khổ qua ra làm khổ qua hầm. Tại vì mình tu chánh niệm trong đời sống hàng ngày, chứ không phải chuyện thơ thẩn gì hết đó. Khi mình lấy trái khổ qua ra, nó giống như một món quà tết. Mở nó ra thì thấy có nắng trong đó. Mùa đông ở đây xám xịt, không biết mặt trời nó đi đâu? Vậy mà mở trái khổ qua ra thì thấy mặt trời nằm trong đó. 'Mặt trời cất chứa trong lòng trái khổ qua, thơ bốc thành hơi trên bát canh mùa đông'. Trong khi bên ngoài gió hú mà thầy có bát canh khổ qua. Khổ qua đó là thơ, hơi nóng của bát canh bốc lên cũng là thơ. Hồi tôi làm bài thơ này thì tại làng Mai chưa có hệ thống sưởi trung ương, và nếu phòng nào hên thì có một lò sưởi củi.
'Thơ theo gió đi về cồn xưa bãi cũ
Mái tranh nghèo còn đứng đợi ven sông'
Quê hương không phải nằm bên kia, mà nằm ngay trong lòng trái khổ qua. Và khi ăn trái khổ qua thì nhớ những hình ảnh đó. Quê hương có chiến tranh, có nghèo đói, quê hương không có chủ quyền, quê hương bị áp bức và vì vậy trong bát canh không chỉ có mặt trời, có không gian, mà còn có quê hương. Mình chưa bao giờ xa quê hương cả dù chỉ 1 năm hay 40 năm.
'Thơ nơi từng giọt mưa xuân
Thơ trong từng đóm lửa hồng'
Nếu mình sống có chánh niệm thì mình thấy tất cả đều mầu nhiệm. Một giọt mưa chứa đựng cả thế giới tam thiên đại thiên, nó chứa đựng tất cả quê hương.
'Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm
Nắng ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử'

Khúc gỗ thơm mà mình bỏ vào trong lò sưởi, nó là nắng, nó chứa nắng trong đó. Mặt trời không có mặt, nhưng khúc cũi đại diện cho mặt trời, và mình bỏ vào trong lò thì có sức ấm. Tôi nhớ hồi viết cuốn 'Đường xưa mây trắng' trong phòng tôi chỉ có một lò sưởi cũi và tôi hơ tay trái trên lò sưởi, còn tay phải thì tôi viết, nhưng hạnh phúc chán. Viết được chừng 3,4 trang thì dừng lại đi làm một bình trà. Trên lò sưởi đã có sẳn nước nóng, thành ra châm trà rất mau.
'Nắng cất chứa trong lòng gỗ thơm'. Mình phải thấy mặt trời trong khúc gỗ. Nếu không thấy thì làm sao có thơ được, làm sao mà có 'Đường xưa mây trắng' được. Có một cái mà mình tưởng là không có mặt, nhưng thực ra nó đang có mặt. Mùa hè có mặt trong khúc gỗ thơm mà mình bỏ vào lò sưởi. Nói tới đây tôi nhớ thời gian tôi viết 'Am mây ngủ'. Am mây ngủ là một tác phẩm ngoại sử, viết về đời của Trúc Lâm Thượng Sĩ và công chúa Huyền Trân. Am mây ngủ là một cuốn sách ngoại sử, đã được nghiên cứu rất kỹ, tất cả những chi tiết trong đó đều có nghiên cứu, chứ không phải do tưởng tượng mà viết ra. Nếu bây giờ chúng ta đọc lại Am mây ngủ thì chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh bát canh khổ qua, và mặt trời cất chứa trong lòng khúc gỗ thơm.
'Nắng vắng trong hư không, nhưng nắng chất đầy một lò sưởi đỏ'
Mình gọi là hơi ấm hay nắng cũng được, nó cùng một tính chất.
'Nắng lên thành màu Khói, thơ đọng thành màu Sương'
Nếu quý vị có bài thơ này trong tay thì quý vị sẽ thấy chữ khói viết hoa và chữ sương cũng viết hoa. Tại sao phải viết hoa hai chữ này? Không phải chỉ hai chữ này mới viết hoa mà tất cả đều phải được viết hoa. Tại vì tất cả đều hết sức là mầu nhiệm. Mầu nhiệm như Bụt như đức Quan Âm. Tại vì Bụt cũng ở trong đó và đức Quan Âm cũng có trong đó. Khói là cái gì, sương là cái gì ? Đó là chánh niệm, đó là Bụt, là tổ, là hạnh phúc, là sự nuôi dưỡng. Đã biết bao nhiêu lần quý vị nấu cơm bằng cũi, đã biết bao nhiêu lần quý vị chất cũi vào lò sưởi, nhưng quý vị có ý thức không? Có thấy rằng những khúc cũi đó chứa đựng mặt trời tháng tám. Có khi nào quý vị vo gạo xong, múc nước đổ vào nồi và thấy nước là từ mấy đám mây ở trên trời cống hiến hay không? Sự khác nhau của người tu và người không tu là ở chỗ đó. Khi mà mình ăn cơm, mình được nuôi nấng bằng những đám mây trên trời, bằng sức nóng của mặt trời trên những đồng lúa vàng rực. Và khi mình nấu cơm như vậy là mình tu, mình là thi sĩ, là thiền giả. Quý vị đâu cần tới chùa để làm việc đó, tại vì quý vị cũng nấu cơm tại nhà, có phải không? Phải sống cho thảnh thơi, vững chãi, sống dừng lại trong từng giây từng phút, nhìn cho kỹ để thấy tâm mình trong đó, chánh niệm trong đó, thì giây phút nào cũng mầu nhiệm. Sương cũng mầu nhiệm, khói cũng mầu nhiệm, trái khổ qua cũng mầu nhiệm, những hạt gạo cũng mầu nhiệm, mà nước cũng mầu nhiệm. Hạnh phúc là ở chỗ đó. Quý vị còn tìm hạnh phúc ở đâu nữa? Không cần phải đợi làm Tăng Thống hoặc Pháp Chủ mới có hạnh phúc.
'Nắng cất giữ trong từng hạt mưa xuân'
Nếu không có nắng thì sức mấy có mưa. Nếu không có mưa thì sức mấy hạt cây nẩy mầm.
'Giọt nắng cúi xuống hôn Đất cho hạt cây nẩy Mầm'
Chữ đất viết hoa, chữ mầm cũng viết hoa. Mình phải vinh danh đất, vinh danh hạt cây. Cái gì cũng quý giá vô cùng.
'Thơ đi theo mưa về trên từng đọt lá'
Mỗi hạt mưa xuân là một bài thơ. Bài thơ này không phải là chuyện tình cảm vẩn vơ. Đây là sự nuôi dưỡng. Không có những trận mưa xuân đó làm sao mình có hoa có trái có cơm có gạo.
Nắng thành màu xanh thơ màu hồng'
Màu xanh cũng vậy mà màu tím cũng vậy. Một nắm rau mồng tơi màu xanh, một nắm rau tía tô màu tím, tất cả đều là thơ. Không cần phải mua một tập thơ, cứ ra vườn đi thì cái gì cũng là thơ hết đó. 'Lá tía tô gọi hạt mồng tơi', lá tía tô, hạt mồng tơi đều là thơ.
'Nắng cất giữ trong từng hạt mưa Xuân
Giọt nước cúi xuống hôn Đất cho hạt cây nẩy Mầm
Thơ đi theo mưa, về trên từng đọt Lá
Nắng thành màu Xanh thơ màu Hồng'
'Nắng chở trên cánh Ong tới trút Ấm lên đài hoa'
Ong có hai cánh và trên hai cánh của nó chở đầy nắng. Phải để ý mới được. Trong khi mình đi, đừng để tâm mình bay bổng trên hư không. Phải tiếp xúc với tất cả mầu nhiệm của sự sống. Ong chở nắng trên hai cánh và khi tới đài hoa thì nó giao hàng bằng cách trút nắng vào đài hoa.
Thơ theo nắng về rừng xa uống Mật
Tưng bừng xôn xao bướm ong về chật đất
Nắng làm nên Khúc Múa, thơ làm nên Lời Ca
Đâu cần lát nữa mới có văn nghệ, khi mình đi thiền hành mình thấy bướm ong, hoa làm văn nghệ non stop.
Mồ hôi giọt xuống đất khô, thơ bay trên luống cày
Nghèo thì nghèo thiệt, nhưng mà có thơ, có sự sống, không có bận rộn quá. Ngày xưa ở chùa Từ Hiếu tôi có đi cuốc đất trồng khoai, trồng sắn, gánh nước, chặt cũi. Tuy phải làm việc nhiều như vậy nhưng thấy thanh thản lắm, đâu có bận rộn như là các thầy bây giờ.
Cán cuốc trên vai, thơ vào ra theo nhịp thở
Đi từng bước có chánh niệm và thực tập hơi thở. Ngày xưa tổ Bách Trượng cũng chấp tác ngoài vườn. Cố nhiên là trong khi vác cuốc thì ngài cũng thở, mỉm cười và đi có chánh niệm như vậy.
Nắng rụng bên Sông nắng Chiều ngập ngừng bỡ ngỡ
Thơ đi về chân trời, nơi vừng Sáng đang đắp chăn mây
Chăn có nghĩa là mền. Mặt trời đắp mền ngủ. Nhưng nhà in in sai, bỏ dấu ớ thành chân mây. Đắp chân mây là đắp cái gì mình không thể hiểu được?
Mặt trời còn biết đi ngủ, còn mình thì cứ làm việc non stop, không chịu đi ngủ. Có cái máy vi tính cứ làm việc hoài.
Mặt trời xanh rờn một rỗ rau tươi
Sư cô, sư chú vừa mới đi hái rau về, một màu xanh rờn, nhưng tất cả đều là mặt trời đó. Mặt trời không chỉ là màu đỏ thôi, nếu anh nghĩ mặt trời màu đỏ thôi thì anh lầm. Cái rỗ rau này là mặt trời đó. Và mình thấy mặt trời rất là xanh. Thấy được mặt trời màu xanh thì người đó mới là người tu.
Mặt trời xanh rờn một rỗ rau tươi
Mặt trời dẻo thơm trong bát cơm gạo Tấm
Có ai nói mặt trời dẻo và thơm không? Khi mình nhai có chánh niệm thì mình thấy gạo dẻo và thơm. Đó là mặt trời dẻo và thơm đó. Nếu không có mặt trời thì sức mấy có bát cơm này cho mình ăn. Đây là tương tức, duyên sinh, và mặt trời là cái gì mà mình đang tiêu thụ.
Thơ trong ánh mắt em thơ, thơ trong mầu da nắng sạm
Thơ nơi từng cái Nhìn chăm chú
Nhìn mà thấy được thì mới gọi là nhìn. Đó là quán. Còn nhìn mà chưa thấy thì chưa phải là nhìn. Danh từ thiền là 'khán' tức là nhìn cho rõ. Nếu là công án thì mình phải nhìn với tất cả niệm và định của mình. Ở đây không cần công án. Chỉ cần nhìn vào nắm rau, nước trong nồi cơm là có rất nhiều hạnh phúc rồi. Nhìn con thấy cha, nhìn đệ tử thấy thầy, nhìn thầy thấy Bụt, nhìn như vậy đáng cho mình nhìn lắm. Thương nhau là ở chỗ mình có nhìn bằng tâm của mình hay không.
Thơ nơi từng bàn tay vun xới miền đồng chua nước mặn xa xăm.
Tất cả đều nằm trong giây phút hiện tại.
Mặt trời cười tươi trên bông hướng dương
Mặt trời trĩu nặng nơi trái đào Tiên tháng tám
Hồi nãy mình nói mặt trời màu xanh, mặt trời dẻo thơm, bây giờ là mặt trời trĩu nặng, mặt trời đang có mặt trong trái đào tiên tháng tám.
Thơ nơi từng bước chân thiền quán
Nếu trong bước chân của sư chú mà có thơ thì sư chú hạnh phúc quá đi. Phải để thơ vào trong chân mà đi.
Thơ nơi từng dòng chữ
Thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình Thương.

Cái câu chót này phải giải thích một chút thì mới hiểu được. Hồi đó có nhiều văn nghệ sĩ phải đi học tập cải tạo. Và ở bên này có chương trình gởi quà về giúp đỡ họ. Những gói quà 1 kg toàn là thuốc tây, khi gia đình của những văn nghệ sĩ này nhận được quà thì họ đem bán lấy tiền đi thăm nuôi người thân, và để sống trong vòng vài tháng. Lúc đó có rất nhiều người tham gia vào việc gói quà để gởi về bên nhà. Công việc phải làm trong bí mật, nếu không thì sẽ liên lụy đến người nhận ở Việt nam. Công việc đó được làm với rất nhiều tình thương. Mình nuôi ai bằng cái công tác đó. Trước hết là nuôi cái tình thương ở trong mình. Trong khi rất nhiều người bó tay, không tìm ra được cách nào để giúp đồng bào còn ở tại quê nhà thì mình tìm ra được cách để giúp đỡ họ. Cái hạnh phúc trước tiên là hạnh phúc cho chính mình. Mình nuôi dưỡng được cái tình thương trong mình. Cho nên mới có câu: 'thơ nơi từng dòng chữ, thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình Thương'. Ngày xưa có một cơ hội các anh em 'thanh niên phụng sự xã hội' được bảo lãnh qua bên này (Pháp), tôi cũng đã đọc bài thơ này cho quý vị. Đây là lần thứ hai tôi đọc bài thơ này.

Bây giờ bên nhà tới giao thừa chưa? 11 giờ rồi hả? Tôi xin thỉnh một tiếng chuông để chấm dứt buổi pháp thoại hôm nay, để các vị ở Pháp Vân, Từ Hiếu, Bát Nhã chuẩn bị, họ còn 1 giờ đồng hồ nữa để đón giao thừa. Trong khi ở bên này còn tới 7 giờ nữa mới đến giao thừa. Đại chúng ở đây sẽ đi thiền hành, và vào 5giờ rưỡi sẽ đắp y ngồi thiền. Lúc 6 giờ tức là 12 giờ khuya ở Việt nam sẽ khai chuông trống bát nhã, lạy tổ tiên tâm linh và huyết thống. Và quý vị ở bên nhà có tưởng tượng được không là 7 giờ tối ở đây tức 1 giờ sáng ở bên đó, chúng tôi sẽ ăn chiều. Và 2 giờ sáng bên kia, tức 8 giờ tối ở đây sẽ có văn nghệ. Bên này sẽ còn thức dài dài. Chúc các thầy, các sư chú, sư cô, các Phật tử bên nhà có một năm mới Bính Tuất nhiều hạnh phúc, nhiều vững chãi, nhiều thảnh thơi và có cơ hội thật nhiều để thực tập hạnh phúc.